Kỹ thuật thủy canh

Sơ lược lịch sử về kĩ thuật thuỷ canh

Đăng ngày04/05/2011 | Bởi: | Mục: Kỹ thuật thủy canh | 0 bình luận

KTTCTDD là kỹ thuật trồng cây không cần đất. Cây được trồng trực tiếp vào DDDD. Kỹ thuật này được gọi là kỹ thuật Hyđroponic (bắt nguồn từ tiếng Hylạp, “hyđro”- nước và “ponic”- công việc). Ở Việt Nam KTTCTDD được gọi là phương pháp “ Thủy canh” hay “Thủy chủng” .
KTTCTDD có từ lâu đời. Từ thế kỷ 17, Boyle đã thử cho cây sinh trưởng trong lọ chỉ chứa nước, cây vẫn sinh trưởng bình thường. Wooward trồng cây Bạc Hà trong nước cất, nước tự nhiên và nước có thêm ít đất thì cây sinh trưởng tốt nhất trong nước có thêm đất rồi đến nước tự nhiên và cuối cùng là đến nước cất.

Năm 1699 tại Anh, John Wood Ward đã tiến hành nghiên cứu kĩ thuật thuỷ canh. Các kết quả nghiên cứu khả quan, hướng phát triển của kĩ thuật này được phổ biến sang Pháp.
Năm 1859, hai nhà sinh lý học người Đức là Sachs và Knop lần đầu tiên đã thu hoạch được hạt của cây lúa mì trong DDDD nhân tạo có chứa các nguyên tố N, P, K, Ca, Mg, Fe, S. Cũng trong thời gian này, Henrigen đã nghiên cứu và sản xuất được DDDD nhân tạo kích thích với nhiều loại cây trồng.

Nhiều thập kỷ sau đó nhiều nhà khoa học như Tollens (1882), Tottingham (1914), Shive (1915), Hoagland (1919), Trelease (1935), Annon (1938) đã tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện dần phương pháp trồng cây trong dung dịch với hàng trăm DDDD khác nhau.

Cũng nhờ phương pháp trồng cây trong môi trường dinh dưỡng nhân tạo. Cuối thế kỷ 19 người ta phát hiện ra vai trò sinh lý của các nguyên tố khoáng đa lượng và tiếp tục tìm ra tác động của nhiều nguyên tố vi lượng. Các nhà khoa học đã xây dựng được những hỗn hợp dinh dưỡng thích hợp với đa số cây trồng, mỗi dung dịch thích hợp cho từng loại cây riêng biệt. Các dung dịch dinh dưỡng có thể dùng để trồng cây trong cát, sỏi, thậm chí nuôi cấy mô, tách rời tế bào

Năm 1936, ở Nga cây rau và hoa bắt đầu trồng trong dung dịch. Người có công nghiên cứu nhiều nhất là D.N. Prianhisnhikop và các cộng sự của ông.

Vào giữa thế kỉ XX ngành công nghiệp nhà kính ở MỸ bắt đầu quan tâm đến các dung dịch dinh dưỡng nhân tạo. Năm 1931 người ta đã công bố phương pháp trồng cây cẩm chướng trong nhà kính sử dụng cát sạch và các chất hoà tan thay cho đất. Trong khi đó Gericke đã dùng dung dịch dinh dưỡng đậm đặc thoáng khí, ấm để trồng TV nổi và kĩ thuật này rất thành công. Gericke chính là người sáng lập ra phương pháp thuỷ canh hiện đại. Tuy nhiên những ứng dụng trên qui mô lớn khi đó còn rất ít. Năm 1944 Mỹ sử dụng phương pháp trồng rau thuỷ canổitồng rau cho quân đội ở vùng sâu xa Đại Tây Dương và các nơi khác, đã chứng minh rằng: mỗi vụ trồng 1/4ha rau xà lách có thể cung cấp cho 400 người sử dụng.

Sau chiến tranh thế giới thứ hai, sự phát triển của ngành kĩ thuật thuỷ canh tương đối chậm và chỉ đến thập kỉ cuối của thế kỉ XX sự phát triển của nó bắt đầu bùng nổ . Có rất nhiều nguyên nhân để giải thích tình trạng đó, nhưng nguyên nhân chính là một số người cho rằng có thể ứng dụng thuỷ canh thành công trong thương mại. Ngày càng nhiều quốc gia nhận ra rằng kĩ thuật thuỷ canh sẽ cho phép điều hoà đượcvấn đề cung cấp thực phẩm sạch, tươi, trước kia phải nhập khẩu với chi phí rất lớn.

Năm 1930, tại trường Tổng hợp California ở Mỹ, W. E. Gericke đã nghiên cứu và áp dụng phương pháp trồng cây trong dung dịch sản xuất kinh doanh và sau đó hình thành KTTC. Sau đó KTTC được phát triển mạnh sang các nước như: Mỹ, Anh, Đức, Pháp, Thụy Điển. Năm 1945 kĩ thuật thuỷ canh chính thức phát triển mạnh trong ngành trồng trọt
Với KTTC, sản xuất nông nghiệp đã trở thành một ngành công nghiệp, nhất là trong lĩnh vực nuôi trồng tảo, rau, quả. Hiện nay các nhà khoa học đang ứng dụng kỹ thuật này trong ngành vũ trụ dựa trên lời tiên đoán của Xioncopski “mỗi một mét vuông nhà kính hướng về phía mặt trời, trong điều kiện vũ trụ, mỗi ngày có thể sản xuất được một kg thức ăn đủ để nuôi sống một người”.

Hiện nay trên thế giới KTTCTDD được áp dụng rộng rãi trong sản xuất với hệ thống thủy canh phong phú và đa dạng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội và điều kiện tự nhiên mỗi nước.